Tuesday, October 9, 2012

Đọc Truyện Kiều, người đời thường chê Thúy Vân, Em có tán thành điều đó,em hãy nêu nhận xét, đánh giá của em về nhân vật.

"Đoạn trường tân thanh" của Nguyễn Du với sức sống mãnh liệt, tồn tại vĩnh hằng cùng với không gian và thời gian đã gợi cho chúng ta biết bao trăn trở, suy nghĩ thật sâu sắc. Không chỉ xoay quanh một triết lý tài mẹnh hay mang đậm màu sắc tôn giáo và tâm lý mà tác phẩm còn thể hiện một hồn thơ trăn trở với nỗi đau nhân loại, một nỗi đau sâu thẳm của thân phận người phụ nữ thời phong kiến. Ai cũng xót thương thân phận nàng Kiều tài hoa bạc mệnh với mười lăm năm phong trần, ai cũng cảm thông cho nàng Đạm Tiên với thân phận sầu thảm nơi chín suối, chứ có mấy ai khóc cho thân phận nàng Thúy Vân chưa?.

Câu hỏi đó cứ xuất hiện mãi trong đầu một cô nữ sinh như tôi. Phải chăng tôi quá đa sầu, đa cảm nên mới thấu nỗi lòng cô em đáng thương ấy? Từ khi Truyện Kiều ra đời, mọi sự quan tâm, thương cảm đều dành cho cô chị " so bề tài sắc lại là phần hơn". chúng ta cần phải đặt bản thân mình vào vị thế của Thúy Vân để thấu hiểu suy tư, tình cảm dẫn đến hành động của nàng. Phải sống với nhân vật, hóa thân vào nhân vật thì mới có thể có được cái nhìn toàn diện và khách quan đối với một con người như thế. Qua ngòi bút miêu tả nhân vật tài hoa của cụ Nguyễn Du, hình ảnh Thúy Vân hiện lên thật đẹp với " mắt phượng, mày ngài", với " khuôn trăng đầy đặn". Thế nhưng, chưa để độc giả kịp ngắm nhìn gương mặt phúc hậu ấy thì cụ Tố Như đã vội vã giới thiệu một bức tranh còn đẹp hơn, hấp dẫn hơn.

Kiều càng sắc sảo mặn mà.
Vì vậy, về hình dáng bề ngoài thì bức tranh Thúy Vân nhanh chóng trở nên mờ nhạt, bỗng chốc biến thành một bức tranh nền nhàn nhạt để làm nổi bật cô chị Thúy Kiều của mình hơn. Cứ thế cho đến cuối tác phẩm, Thúy Vân vẫn cứ " núp" sau lưng chị - người chị xinh đẹp và tài hoa hơn hẳn mình. Nghe đến đây, ai mà không chua xót, không chạnh lòng thương cho cô em đáng thương ấy!. Cùng chung một nhà, lại là hai chị em gái thì làm sao tránh khỏi sự so sánh, khen chê. Ấy là nỗi khổ của Thúy Vân. Thế mà, vốn bản tính hiền lành, nhân hậu đến vô tư, nàng đã không một lời ca than hay trách giận mà vẫn vui vẻ sống và thương yêu chị mình. Một tấm lòng nhân hậu ấy dễ mấy ai trong thiên hạ có được? Hay lòng ghen ghét, đố kỵ làm phai mờ tính nhân bản của một con người, đặc biệt là một cô gái thua kém chị về mọi mặt, luôn bị đem ra bình phẩm như vậy? Đó lá nét đẹp tâm hồn của Thúy Vân mà chỉ nhìn lâu và kỹ mới thấy được.

Khi đi chơi Xuân với chị, tong khi chị đang thắp hương khấn vái, khóc thương cho thân phận Đạm Tiên thì hình ảnh Thúy Vân một lần nữa lại xuất hiện khá mờ nhạt, vô tình. Nếu chỉ đọc qua thì ai nhận ra rằng Thúy Kiều có một tâm hồn thật sâu sắc, biết cảm thương cho thân phận con người, nhỏ lệ cho một người chưa quen biết, còn cô em sao mà vô tình quá, lại phán một câu rất phũ phàng ! Quả thật, đọc đến đây lòng tôi cũng sắt lại vì giận nàng Thúy Vân ! Thế nhưng, phải thấu hiểu tâm can nàng thì mới có thể bình giá hàng động, thái độ đó của nàng được. Bản tính từ khi cha mẹ sinh đẻ đến giờ của Thúy Vân là hiền lành,tốt bụng. Nhưng, một cô gái chưa hiểu mấy sự đời, lòng người vốn sống còn ít ỏi, đơn giản như Thúy Vân thì cũng có thể dẫn đến hành động vô tâm như vậy lắm chứ! Nàng vốn quen sống cảnh bình yên, hằng ngày đều ở trong nhà an phận thủ thường, không tiếp xúc với ai, cùng với tuổi đời còn non như vậy thì trong cách đối nhân xử thế lẽ dĩ nhiên cũng còn ít nhiều dại khờ. Con người không phải cái gì cũng biết, có người đến tận khi đầu bạc vẫn còn chưa hiểu hết lòng người kia nữa mà. Thế nên người đọc cũng nên dùng đôi mắt cảm thông mà thương cho cô em giản dị này! Đừng quá khắt khe mà phán tội nàng như thế. Gỗ đá còn có hồn nữa nói gì là một con người có trái tim hồn hậu như Thúy Vân.

Tôi đã đọc và được học khá kỹ về trích đoạn Trao duyên trong Văn học lớp 10. Quả thật đò là một trong những đoạn thơ hay tạo nên tính bất hủ của tác phẩm. Có thể vì là chị lớn trong gia đình lại thêm suy nghĩ sắc sảo nên đêm đó quả là một đêm đầy sóng gió trong tâm hồn nàng Kiều. Còn nàng Vân lại xuất hiện như một cái cớ để dễ bề so sánh. Một lần nữa nàng lại gánh chịu những cái nhìn đầy chê trách, oán giận của người đọc. Trong khi chị phải bán mình chuộc cha, trong lòng như tơ vò trăm mối, suốt đêm thức trắng tự giày vò mình trong ân hận, xót xa, buồn tủi, mặc cảm...thì cô em lại ngủ ngon lành..giấc ngủ xuân. Thế nhưng, xin chớ vội kết luận về tính cách nàng Vân. Hãy nán lại một chút để đọc đến phần sau thì sẽ có cái nhìn đúng đắn và chính xác hơn về nàng. Giữa lúc đó, Thúy Vân chợt tỉnh giấc, đến an ủi, hỏi han chị. Và đây chính là cái chỗ thể hiện tính nhân bản trong ngòi bút của Nguyễn Du ! Ông đã để cho cô em thức dậy đúng lúc, và để cho người đọc bớt gay gắt, khắt khe hơn với cô gái quá vô tâm này. Thế mà trong chúng ta không nhiều người chịu khó để ý đến chi tiết này, cứ vội vàng đến nhẫn tâm phán xét nàng từ chi tiết ngủ ngon lành trên kia.

Thấy chị còn thức thì ngay lập tức nàng chạy đến bên hỏi han, an ủi chị. Thật là một cô gái có tấm lòng! Tuy vô tâm nhưng một khi đã phát hiện ra thì vẻ mặt đau khổ của người chị mà mình luôn yêu thương, kính trọng thì vô tâm ấy hoàn toàn biến mất mà thay vào đó là một sự quan tâm sâu sắc mà chỉ người có trái tim như nàng mới thể hiện hết được. Tiếp đó, Thúy Vân đã thể hiện hết tấm lòng mình khi lắng nghe tiếng lòng thổn thức của chị. Quan tâm, yêu thương người khác không chỉ có những lời nói chia sẻ, an ủi mà sự yên lặng, chăm chú lắng nghe cũng chỉ là một biểu hiện của con người nhân hậu.

Thúy Vân đã từ chỗ lắng nhge tâm sự của chị đến chỗ chấp nhận gá nghĩa cùng Kim Trọng. Đó là một quá trình diễn biến tâm trạng phức tạp nhưng hợp tình và hợp lý. Qua tâm trạng của Thúy Kiều được miêu tả rất kỹ càng thì ta có thể thấy được nỗi lòng Thúy Vân. Để cho không khí của buổi trao duyên trở nên trang trọng, thiêng liêng và để cho em gái hiểu và nhận lời, nag2 Kiều đã rất khôn khéo khi mở lời.

Cậy em, em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.


Nhờ em nhưng Kiều tin cậy em, mong em thông cảm mà nhận cho. Cách nhờ mà buộc ấy, làm sao ai nỡ chối từ. Huống chi là nàng Thúy Vân nhân hậu, tốt bụng! Hành động như vậy chính là biểu hiện của tấm lòng nhân ái, vị tha của Vân. Sau khi nghe chị thuyết phục bằng cách giãi bày tình yêu của chị với Kim Trọng, trình bày hoàn cảnh khốn khó của gia đình và Kiều lại có thêm lý do xác đáng.

Ngày xuân em hãy còn dài.
Xót tình máu mủ thay lời nước non.


Trên đời này khó có thứ tình cảm nào sâu nặng hơn tình máu mủ, nên Thúy Vân có cùng tâm lý đó dễ dàng bị chị thuyết phục, làm sao có thể nói lại được? Tiếp theo là những lời xuất phát từ tận ruột gan của Thúy Kiều khi nói về chàng Kim và mối tình sâu nặng của mình làm Vân không thể cầm lòng được. Nàng đã nhận lời! Nàng chắc hẳn phải thương chị lắm mới có thể chấp nhận một chuyện khó cô gái nào chấp nhận, lấy người mà mình không yêu, người đó cũng chẳng yêu mình. Và điều chắc chắn là tình cảm không thể nảy nở được dù có lấy nhau vì trong lòng người mình gọi bằng chồng ấy đã có hình bóng người con gái khác, đau đớn thay đó lại là chị mình! Quả là một sự hy sinh cao cả mà không bút mực nào tả xiết. Một sự hy sinh thầm lặng, một nỗi đau không thể nào lành được dù cho thời gian có qua đi. " chẳng yêu đương cũng lấy được chồng" Sao? sung sướng lắm sao? Hạnh phúc lắm sao? Một cuộc hôn nhân không tình yêu thì cuộc sống sau này chỉ là những chuỗi ngày đau khổ mà thôi. Đặc biệt là cho người phụ nữ trái tim vốn đa cảm. Thế mà người ta gọi là cái số " tốt lạ lùng". Thật nực cười! Nhìn bề ngoài thì ai cũng tưởng sung sướng lắm, hạnh phúc lắm: "tơ thừa chắp nối cũng êm tai". Họ có phải là nàng Vân không? Mấy ai làm được cái chuyện đầy hy sinh như nàng Vân đâu? Nếu đem so sánh chuyện nàng Kiều hy sinh tình riêng để bán mình chuộc cha thì chụyện nàng Vân hy sinh cả cuộc hôn nhân của mình để làm vui lòng chị, để làm thỏa ước vọng cuối cùng của chị thì không thể nói nàng Vân tốt số. Kiều sau này còn có thể có tình yêu khác, mà đơn cử là với Từ Hải chứ còn Vân, nàng có thể hy vọng tình yêu nào khác chàng kim không? Mà hy vọng vào chàng Kim thì coi như vô vọng, nàng Vân cũng đã có những suy nghĩ cho thân phận mình như nhà thơ Trương Nam Hương đã nói hộ.

Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chứ em nước mắt đâu dành chàng Kim...


Chỉ bằng lời lẽ nhẹ nhàng nhưng chí tình như vậy thôi thế mà nàng Vân nào có dám hé môi, nàng chỉ biết im lặng mà nuốt nước mắt ngược vào trong. Một đời dở dang, lận đận mang tiếng " hưởng phúc chị" không một ngày nào hạnh phúc, ấy thế mà trong suốt mười lăm năm ấy không lúc nào nàng lên tiếng thở than, huống chi là trách móc. Điều này càng khẳng định hơn nữa tấm lòng nhân hậu, vị tha của nàng! Thế nhưng, đến khi chị trở về sum họp thì một lần nữa nàng lại hành động hết sức bất thường mà ít ai dám làm, đó là trao trả chàng Kim cho chị? Có người phụ nữ nào đem chồng mình cho người khác mà lòng không quặn thắt lại không? Nói gì đi nữa thì cũng nên nghĩa phu thê suốt bao năm qua, ai mà không buồn, không tủi. Thế nhưng người ta xem đó là một nghĩa vụ, một chuyện đương nhiên phải làm. Xót xa thay thân phận nàng Vân, suốt đời chỉ nghĩ cho người khác, có khi nào nàng nghĩ cho bản thân mình chưa? Câu trả lời là chưa, vì lúc nào nàng cũng hành động cao thượng đến không ngờ, đến quặn lòng. Cần có một cái nhìn cảm thông và tinh tế cho thân phận nhân vật như Thúy Vân, nhân vật mà bấy lâu nay chịu quá nỗi đau về một tinh thần rồi, bao lời trách móc cay nghiệt, bao lời bình giá khắt khe làm cho nàng chịu nhiều ấm ức, bất bình. Xin hãy bỏ cái nhìn định kiến với nàng Vân nói riêng và với người phụ nữ phong kiến nói chung! Đừng xét nét mỗi hành động, cử chỉ của họ. Hãy bằng tấm lòng nhân hậu của mình để soi thấu tấm lòng nhân hậu của nàng. Một lần nữa xin mọi người nhớ lời thơ của Kim Chuông.

Cao cả là Vân
Vẫn thân phận ở đời
Ôi, các nhà bình phẩm sâu sắc
Trong xếp hạng những tên người nhắc
Hình như nghiệt ngã với riêng Vân.


( Nghĩ cùng Thúy Vân ngày Kim - Kiều hội ngộ).

Mong mọi người đương thời thẳng thắn và khách quan khi bình giá nhân vật Thúy Vân! Hãy cho nàng một chỗ đứng trong lòng người đọc, chỗ đứng xứng đáng với những gì nàng đã hy sinh!.



Đoàn Phạm Diễm My ( Trường phổ thông Năng khiếu - TP Hồ Chí Minh).

Phân tích cái hay của hai từ “ chín dạn” trong câu thơ “ Đòn gánh tre chín dạn vai”


Phân tích cái hay của hai từ “ chín dạn” trong câu thơ “ Đòn gánh tre chín dạn vai” ( Văn chiêu hồn – Nguyễn Du)


Bài làm:

Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời nghìn thu
Ngàn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.


( Tố Hữu)

Nguyễn Du – một nhà thơ lớn của dân tộc, một trái tim nhân đạo cao cả. Đến với thơ ông, bao giờ người đọc cũng cảm nhận tất cả những tình cảm sâu nặng dành cho mọi kiếp người. Trái tim ông đã từng rỉ máu trước một cô Kiều tài hoa bạc mệnh. Đôi mắt ông bao lần rướm lệ vì xót xa cho số phận đau khổ của một nàng Tiểu Thanh bất hạnh. Trong văn chiêu hồn, ông thương cả những người đã chết, đều muốn cho họ siêu thoát mặc cho họ nghèo hay sang hèn. Đến với tác phẩm, người đọc không chỉ bắt gặp ở Nguyễn Du một trái tim luôn nhịp với cuộc đời mà còn nhận thấy ở ông một bút pháp tinh tế về sử dụng ngôn ngữ thơ. Từng lời, từng câu đều gợi lên trong lòng người đọc những ấn tượng khó phai mờ. Trong đó phải kể đến câu: “ Đòn gánh tre chín dạn hai vai”.

Xuân Diệu cho rằng đây là một câu thơ hiếm có trong cổ điển. Câu thơ cô đọng chỉ với hai từ “ chín vạn” vậy mà toát lên những nhọc nhằn, khổ cực của người buôn bán. Trong xã hội phong kiến xưa, cái xã hội mà những người “ thấp cổ bé họng” luôn bị chà đạp, rẻ khinh, những người buôn thúng bán bưng nghèo khổ phải sống vất vả. Cái nghèo cứ đeo đẳng, quấn chặt lấy họ. Cái khổ như ăn sâu, thấm sâu vào da thịt họ. Cuộc sống đòn gánh trên vai là những chuỗi ngày nhọc nhằn, gian khó, là những ngày rong ruổi trên mọi nẻo đường, là những đêm thui thủi, lặng lẽ trên đường về. Bao nhiêu đắng cay tủi nhục, vất vả như đổ ập vào đầu họ, trút xuống đôi vai vốn đã nhỏ bé của họ làm cho nó chai sần, đầy sao. Chín dạn, chỉ hai chữ thôi mà gợi cho người đọc bao nhiêu suy nghĩ. Đó là một từ rất hay. Chín dạn là nát da chín thịt, đôi vai bé nhỏ của người buôn bán phải gồng gánh suốt cả cuộc đời. Đòn gánh tre đã hằn lên trên da thịt họ đến chín da nát thịt. “ Đòn gánh tre” hay những nhọc nhằn, vất vả cứ đè nặng lên đôi vai bé nhỏ của họ.

Chỉ với hai từ “ Chín dạn” mà Nguyễn Du như lột tả được nỗi đau của kiếp người buôn bán nghèo khổ. Tại sao nhà thơ không sử dụng một từ ngữ nào khác. Tại sao nhà thơ không sử dụng một từ ngữ nào khác như:

Đòn gánh tre trĩu nặng hai vai


Hay

Đòn gánh tre đè nặng hai vai.


Cả hai cách viết đều diễn tả nỗi vất vả, nỗi đau nhưng nỗi đau ấy, vất vả ấy cũng chỉ bên ngoài, làm sao có thể tả nổi nỗi đau vừa nhức nhối vừa âm ỉ như từ “ chín dạn”. Quả thật, nếu như không có một trái tim đồng cảm với người nghèo, một đôi mắt nhìn thấu tất cả những nỗi đau trong nhân gian và một tài năng bậc thầy thì làm sao Nguyễn Du có thể viết được những câu thơ hay, rung động lòng người đến vậy.

Trái tim Nguyễn Du đã ngừng đập nhưng ông đã để lại cho đời bao nhiêu áng văn chương kiệt tác với những ngôn từ sắc sảo tinh tế. Thơ ông bao giờ cũng tràn đầy tình cảm, đôi khi thấm đẫm cả máu mà nước mắt. Thời gian cứ vô tình trôi qua, bụi thời gian sẽ xóa nhòa, phủ lấp tất cả, nhưng những gì là đẹp nhất, tinh hoa nhất sẽ mãi mãi trường tồn, bất biến cùng năm tháng. Rồi “ Đòn gánh tre” sẽ không còn nữa nhưng câu thơ “ Đòn gánh tre chín dạn hai vai” sẽ mãi mãi còn nhức nhối lòng người.




Huỳnh Hoa Thủy Tiên ( Trường PTTH Trần Đại Nghĩa – TPHCM).
*

Phân tích bài thơ Độc Tiểu Thanh Kí của Nguyễn Du để cảm nhận được tiếng khóc của một người đa tình

Đọc những tác phẩm của Nguyễn Du, không thể nào không cảm nhận những giọt nước mắt khi đau đớn, khi xót xa, căm giận…của nhà thơ đa tình này. Đặc biệt trong Truyện Kiều thì dường như thi hào đầm đìa giọt thương như một nhà thơ đã thấy “ Tố Như ơi lệ chảy quanh thân Kiều”. Sự rung cảm trước những vận mệnh bất hạnh đã là một “đặc tính” của Nguyễn Du khi ông sáng tạo các tác phẩm để đời. Độc Tiểu Thanh Kí, một bài thơ đã thực sự trở thành tiếng lòng nức nở hồn thơ nhạy cảm Tố Như./

Câu chuyện về nàng Tiểu Thanh có tài mà bạc mệnh đã là mối thương tâm cho những ai yêu mến nàng. Song dường như người hiểu nàng nhất, thương nàng nhất không ai khác mà chính là Nguyễn Du, dù thi hào đất Việt cách xa hàng nghìn trùng không gian và thời gian. Ông không khóc nàng bằng tiếng khóc thường tình, nhỏ một vài giọt lệ rồi quên ngay mà khóc bởi một trái tim quặn thắt, đau xé tâm can. Trong khi khóc Tiểu Thanh, ông cũng đã khóc cho chính mình.

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Ba trăm năm từ khi Tiểu Thanh qua đời, Nguyễn Du mới biết nàng và khóc cho nàng. Thế còn 300 năm sau, có ai còn nhớ đến ông mà khóc hay không? Cái sự “ thấy người ngẫm ta” ấy thực là đau xót làm sao. Những người theo đuổi nghiệp văn ấy nhạy cảm lắm, hay đau lắm, họ khóc cho người và cũng khóc luôn cho mình. Mà có gì đâu, chỉ là những chuyện rất thường.

Tây Hồ hoa uyển tận thành khư
(Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành gò hoang rồi).

Sự chuyển biến của vũ trụ là quy luật ngàn đời, những người đa cảm nhìn thấy sự chuyển biến lạnh lung ấy của đất trời thì cảm thấy hết sức đau đớn, xót xa. Khung cảnh điêu tàn, lạnh lẽo của Tây Hồ là khoảng không gian gợi sầu, gợi cảm và làm động mối thương tâm cho nhà thơ nhiều lắm, nhất là khi đang đọc những phần dư cảo hết sức thương tâm của người con gái bạc mệnh Tiểu Thanh.

Độc điếu song tiền nhất chỉ thư
(Chỉ viếng nàng qua một một tập sách đọc trước cửa sổ).

Cái sự gặp gỡ này hết sức tình cờ nhưng nó như là mối lương duyên. Người xa lạ này chỉ mới nếm chút dư vị xót xa nàng thôi nhưng trong tâm tư đã dâng lên khối tình cảm rất lớn với con người tài hoa bạc mệnh.

Trước hết là đau cho người tài hoa chết trẻ, sau là cho nghiệp văn chương và cuộc đời tàn nhẫn đã giết chết những tâm hồn. Bản dịch là “ Thổn thức bên trong mảnh giấy tàn” để lại được cái tình của con người đa cảm này. Ông đã khóc tự trong lòng.

Chi phấn hữu thần tiên tử hậu
Văn chương vô mệnh lụy phần dư


( Son phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết . Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dở).

Hai câu thơ này là “ thần cú” đã khái quát được cả một cuộc đời đau khổ của Tiểu Thanh. Hình ảnh “son phấn” ước lệ khi nói về người con gái là cách nói đẹp nhất, yêu thương và quý trọng nhất. Người đẹp thường như hoa,nàng đã phải chịu sự ghen tuông thái quá, phải sống trong sự cô đơn lạnh lung trong tuổi thanh xuân đang hứa hẹn nhiều hương sắc cho đời. Lúc chết đi, những tưởng người ta sẽ tha cho người con gái tội nghiệp này, thế mà đau đớn thay…sự ghen tuông mù quáng đến bệnh hoạn của người vợ đã giết chết nàng một lần nữa, chết trong nỗi đau đớn mà những suy nghĩ, tình cảm bị cấm đoán thì còn chăng một tình cảm nào nữa ngoài sự tàn nhẫn của đời người. Xót đau cho người bạc mệnh. Nguyễn Du càng thấm thía hơn, cay đắng hơn cho những tác phẩm văn chương của nàng “ Văn chương vô mệnh”, nó chỉ là tâm tư, tình cảm của người ta thổ lộ, là những gì quý giá nhất tình cảm nhất con người. Thế giới của văn chương và người đời hoàn toàn khác nhau, không thể nào hàn gắn cho văn chương cùng một số mệnh với người làm ra nó. Đó là một điều tất yếu xưa nay. Thế mà nàng Tiểu Thanh tội nghiệp đến cả những tác phẩm của mình cũng bị người đời ghen ghét đốt đi, tàn nhẫn và lạnh lung đến vô cùng. Còn gì đau đớn hơn thế nữa, xót xa hơn thế nữa. Nguyễn Du đã khóc cho nàng và bật lên những tiếng nói căm hờn.

Cổ kim hận sự thiên nan vấn
( Những mối hận cổ kim khó mà hỏi trời được).

Cái hận này là hận cho sự lạnh lung, tàn nhẫn của đời người, hận cho thói true đùa của con tạo “ hận” “ nan” – cay lắm, xót lắm, mà đành kêu trời chứ biết làm thế nào bây giờ. Trời xanh thì khôn cùng vời vợi.

Có thể như đang thấy Nguyễn Du trong nước mắt vẫn cười một nụ cười chua đắng đến tận cùng tâm can. Khóc cũng vì một nỗi đau mà cười cũng là vì một nỗi đau. Còn gì ghê gớm hơn thế nữa? Ông khóc, ông cười cho Tiểu Thanh vì đồng thời, ông cũng nhận ra: Mình là ai?

Phong vận kì oan ngã tự cư
(Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lung vì nết phong nhã).

Ông tự xem mình là người cùng một hội với Tiểu Thanh, con người tài hoa bạc mệnh. Cuộc đời của Tiểu Thanh soi sáng tâm hồn của Nguyễn Du, ông thấm thía nỗi đau của khách văn chương đa tài đa nạn. Ông đau với nỗi đau biết mình không tránh khỏi cái sự nghiệt ngã của người cùng hội cùng thuyền giữa biển đời song gió. Nhưng chính nỗi đau ý thức được ấy lại rang buộc gắn kết ông sâu sắc, mạnh mẽ và xót xa hơn bao giờ hết bởi ông biết rằng đó chính là đường đời của mình. Mà con đường trước mắt thì vời vợi, ai biết được rằng ngày mai sẽ ra sao? Đau đớn tận đáy lòng, ông không khỏi kêu lên tiếng than của một trái tim đầy ắp nỗi sầu nhân thế.

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Một nỗi đau thật nhất, không hề giấu diếm, cả cuộc đời ông đã khóc cho người, còn ai hiểu và khóc cho trái tim ông hay không? Khóc cho Tiểu Thanh, ông không khỏi chạnh nghĩ về mình. Tâm lý thường tình của người đời là vậy, dường như bây giờ. Nguyễn Du mới thật sự thấy hết nỗi cô đơn của mình, khao khát muốn có người để chia sẻ cùng mình. Lời bộc bạch kết thúc bài thơ, kết thúc những liên tưởng của Nguyễn Du nhưng lại mở ra một thế giới cảm xúc trong lòng người đọc. Tựa như giọt nước mắt cuối cùng của Nguyễn Du, từ từ, nhỏ giọt vào tận đáy lòng.

Độc Tiểu Thanh kí
 – tiếng khóc của người đa tình Nguyễn Du dường như là một dự báo cho tiếng thơ nhân ái và cuộc đời bất hạnh của Nguyễn Du say này. Suốt đời ông khóc cùng người đời, nói lên tiếng nói cảm thương vô hạn cùng thân phận của người đời bằng trái tim xót đau và nhạy cảm. Và trong ông, cái day dứt ấy không bao giờ nguôi ngoai vẫn cứ còn bật lên tiếng khóc thầm, lặng lẽ ủ kín trong nỗi đau đớn, khắc khoải của nhân gian dài dặc.


Nguyễn Hoàng Phương ( Trường Quốc học – Huế).

Hành trình đến với hạnh phúc của cô Tấm - Truyện "Tấm cám"


HÀNH TRÌNH ĐẾN VỚI HẠNH PHÚC CỦA TẤM - TRUYỆN "TẤM CÁM"

Tấm Cám là một trong những truyện cổ tích thần kỳ tiêu biểu nhất trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc Việt Nam. Qua cốt truyện về cô Tấm côi cút bị dì ghẻ và đứa em Cám cùng cha khác mẹ hành hạ tủi cực nhưng kết thúc lại có hạnh phúc, những sung sướng nhất định, các nghệ nhân dân gian phản ánh cuộc sống chiến đấu dai dẳng, gian nan và không cân sức giữa người lao động nghèo khổ và lực lượng thống trị. Họ chiến đấu với niềm tin sẽ chiến thắng cả một thế lực đen tối trong xã hội phong kiến ngày xưa. Mâu thuẫn giữa mẹ con Tấm Cám không chỉ bó hẹp trong khuôn khổ gia đình mà còn là xung đột kịch liệt giữa cái thiện và cái ác.

Mâu thuẫn này không chỉ diễn ra trong khoảng thời gian cố định mà nó đã ngấm ngầm nảy sinh ngay từ lúc dì ghẻ thay quyền người mẹ yểu mệnh đáng thương của Tấm. Cô bé mồ côi tội nghiệp vấp phải cái quy luật nghiệt ngã nghìn đời:
“Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời mẹ ghẻ có thương con chồng”
Cảnh người cùng cực và cô thế nhất trong cái xã hội vốn đầy rẫy trái khoáng đẩy em bé gái nhỏ vào thế chông chênh, bơ vơ ngay từ bước đi chập chững đầu tiên trên con đường đời khúc khuỷu. Tấm là nạn nhân của chế độ phụ quyền: khi mà bố mẹ đã qua đời cả thì mọi quyền hành đều thuộc về tay dì ghẻ. Suy cho cùng thì gia đình chính là nguồi gốc của mọi khổ đau bủa vây lấy đời Tấm, gia đình không là mái ấm! Vừa là phận gái, vừa mồ côi, vừa chịu thế con riêng của chồng nên cái tủi nhục của Tấm càng chất chồng lên cao. Biết thân biệt phận, nhân vật hiền lành nhẫn nhục của chúng ta luôn chăm lo làm việc, sẵn sang “quần quật nửa ngày trời, mải miết hớt đầy giỏ tôm tép” chỉ để mong ước có được cái yếm đỏ, ước được sự cần thiết tối thiểu và chính đáng của cô bé. Thế mà ngay cả cái niềm vui con con của tuổi thơ bỗng chốc cũng trống hoác hệt như giỏ tép Cám đã tráo trở cướp công vậy. Người ta đã lấy đi công lao của mình để mà hưởng phần, Tấm biết nhưng biết làm gì hơn ngoài việc ngồi ôm mặt khóc tức tưởi? Tấm buộc phải tự thu hẹp ước mơ của mình lại trước khi bàn tay nhuốc nhơ kia bóp ngẹn lấy nó. Một con cá bống nhỏ sống sót y hệt như một đám than hồng còn sót trong tro nguội nhưng vẫn còn đủ hơi ấm để sưởi ấm niềm tin.
“Cái bống là cái bống bình,
Thổi cơm nấu nước một mình mồ hôi”.
“… Cái bống là cái bống bang,
Ăn cơm bằng sàng, uống nước bằng tay”.
Thân bống và thân Tấm có chung nỗi bất hạnh mà chỉ Tấm và bống mới đồng cảm với nhau được. Câu hát gọi bống ăn còn là cả lời chân tình đối với người bạn duy nhất thuở ấu thơ:
“Bống bống bang bang,
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta,
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”.
Một hạt cơm thừa từ bữa ăn ngon lành của mẹ con Cám thì vẫn là “cơm vàng, cơm bạc”, vẫn là mồ hôi nước mắt của con người luôn nâng niu mọi thứ xung quanh mình. Giết chết cá bống nào đâu chỉ đơn giản là để đáp ứng khẩu vị của bọn giàu sang? Chúng giết bống cốt là để dập tắt niềm hy vọng vốn đã vô cùng hiếm hoi của Tấm. Hòn máu đỏ đọng lại mãi không tan là hiện thân của tội ác không thể dung tha, là vết tích để lại cái chết oan tàn nhẫn. Và rồi Tấm cũng chỉ biết “bưng mặt mà khóc òa lên”, khóc căm hận và phẫn nộ nhưng vẫn không làm gì được. Một lần nữa nhờ đến Bụt, nhờ đến ông lão hiền lành, tốt bụng đã được dân gian hóa từ hình tượng Đức Phật, luôn xuất hiện trợ giúp Tấm trên con đường đến hạnh phúc, Tấm lại tự nhen nhóm ánh sang lẻ loi của niềm tin từ trong đống tro tàn. Thứ ánh sang đó cho dù Tấm mang cả tâm hồn mình ra để cha chở nhưng vẫn không cản nổi sự đày đọa của mẹ con Cám chủ ý giáng mạnh vào thân xác nhỏ bé của cô gái khát khao một lần được đi hội xuân. Bọn chúng trắng trợn trộn thóc với gạo nhằm dập tắt niềm vui được gia cảm với đời của Tấm. Và Tấm lại khóc ấm ức làm người ta thiết nghĩ nhân vật Tấm quá bị động, chị khóc từ đầu đến cuối chờ Bụt giúp. Ngay cả chi tiết nhà vua vô tình lượm được chiếc giày xinh xẻo Tấm làm rơi cũng quá phụ thuộc vào sự may rủi. Nhưng hãy cứ nghĩ lại mà xam, chẳng phải chi tiết Tấm ướm giày vừa như in tượng trưng cho sự đúng đắn và hợp ý lòng mình hay sao? Có lẽ, vô chừng trong thâm tâm Tấm đã sống cho cái quy luật muôn đời truyền tụng mà cô vẫn hằng ngày đặt niềm tin: “Ở hiền gặp lành”. Tấm vẫn phải sống để thấy được điều “lành” sẽ tới vớt mình như thế nào sau bao nhiêu năm “ở hiền” như vậy? Và bản tính lương thiện, đôn hậu đã đưa cô gái nghèo lên trên đỉnh cao của danh vọng, lên đến ngôi vị Hoàng hậu cao sang. Trước đó không lâu mẹ con Cám dè bỉu õng ẹo:
“Chuông khánh còn chẳng ăn ai,
Nữa là mảnh chĩnh vứt ngoài bờ tre!”
Chúng cho rằng Tấm chẳng thể thay đổi được cái trật tự giàu nghèo vốn đã được định đoạt. thế mới có cớ sự mụ dì ghẻ cũng hăng hái hớn hở ướm giày như các cô gái trẻ, và khi thất bại chúng sẵn sàng nhúng tay vào bất cứ tội ác nào.

Khi đã yên vị ở ngôi Hoàng hậu, Tấm nào ngờ có biết bao nhiêu ánh mắt hiểm độc đang hướng về mình. Và Tấm tiếp tục là nạn nhân bi thảm của tội ác, khi mà lắt léo cái lưỡi không xương, khi mà tay cầm dao vấy máu đến nơi miệng vẫn thơn thớt, nỉ non ngọt ngào: “Dì đuổi kiến cho con ấy mà!”. Cô Tấm hiền hậu đoan trang ngả xuống thì một co Tấm quyết liệt và mạnh mẽ lại sống dậy, trở về đòi cho bằng được hạnh phúc. Bốn lần hóa thân thành chim vàng anh, cây xoan đào, quả thị là những vật bình dị thân thương Tấm gửi gắm linh hồn mình trong đó; thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể tiêu diệt chịu chết một các oan ức của cái thiện mà đã vùng dậy mạnh mẽ. Oái oăm thay, cái thiện đứng dậy bao nhiêu thì cái ác cũng lấn lướt hòng dập tắt cái thiện bấy nhiêu. Có một lúc nào đó chúng tạm thời thắng thế bước lên lầu son gác tía của vương quyền, cung vua, những nơi không thuộc về chúng, chim chóc đến với chúng chỉ để nguyền rủa, tiếng võng trưa hè cũng cất lời đay nghiến chúng. Chúng bị dồn vào thế cô lập và phải đương đầu với cả một mặt trận công lý. Chúng ta không còn thấy Tấm khóc mà tự mình giành và giữ hạnh phúc sao cho bền chặt. Sự hóa thân trở về trần thế thể hiện mơ ước lớn lao về công bằng xã hội; không tìm hạnh phúc ở cõi Niết bàn cực lạc như thuyết luân hồi nhà Phật mà tìm và giữ hạnh phúc ngay ở cõi đời này. Sau bao lần thăng trầm trôi nổi, Tấm trở lại thiêng liêng, dường như Tấm hiểu rằng không thể có hạnh phúc trọn vẹn nếu cái ác còn tồn tại, cô lừa Cám để tự mẹ con nó tìm đến cái chết. Kết thúc dẫu có hơi tàn bạo nhưng quả thật phù hợp với mong ước của nhân dân về sự trừng phạt kẻ thù thích đáng.

Tiếng hót chim vàng anh có nghĩa gì đối với trái tim những con người dã thú đầy máu độc, bong xoan đào rợp mát nào xoa dịu được lòng dạ ganh ghét, đố kỵ, tiếng khung cưởi giòn rã lại càng làm cho những trái tim gai góc sùng sục bạo tàn… Cái thiện càng bị áp bức, dồn đuổi đến đường cùng thì cái ác càng lộng hành thể hiện mâu thuẫn đối kháng không thể dung hòa, không khí căng thẳng nên xu thế buộc phải thay đổi. các tác giả dân gian không đi sâu vào việc phân tích tâm lý nhân vật mà thiên về miêu tả hành động và tính cách của nhân vật, kết hợp các yếu tố kỳ ảo cùng các câu văn vần góp phần thi vị hóa lời văn và cốt truyện được cố định. 

Truyện được lưu truyền và gọt giũa qua thế gian, được nhiều người ưa thích và nghiền ngẫm, lôi được ra ánh sang hình thù, bản chất thô kệch, xấu xí của mẹ con Cám thể hiện hoài bão về lẽ tất thắng của cái thiện đối với cái ác cho dù có khó khăn đến đâu, có gian nan đến thế nào chăng nữa.

(Nguồn: Sưu tầm)

TRUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM

Đã là người Việt Nam, trong thời thơ ấu của mình có mấy ai không từng được nghe kể chuyện Tấm Cám, và hình ảnh cô Tấm mồ côi ao ước chiếc yếm đào, ngồi khóc bên giếng vì mất bống, bị hắt hủi tội nghiệp đã làm lay động bao trái tim nhân hậu. Kiểu truyện Người mồ côi rất quen thuộc trong truyện cổ tích Việt Nam và nước ngoài, trong đó Tấm Cám là kiểu truyện phổ biến. Ở Pháp có truyện Lọ Lem, Đức có Cô Tro Bếp, Trung Quốc có Nàng Diệp Hạn, Thái Lan có Con cá vàng, Mianma có Truyện con rùa, Cămpuchia có Nêang - Cantóc.... Nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng có những truyện tương tự Tấm Cám: Tua Gia Tua Nhi (Tày), Ý Ưởi Ý Noọng (Thái), Gầu Nà - Gầu Rềnh (Mông), Đôi giày vàng (Chăm), Ú và Cao (Hơ rê), Gơ liu- Gơ lát (Xơ rê)... Khác với những truyện tương tự Tấm Cám ở phương Tây, thường kể về cô gái mồ côi bất hạnh, chăm chỉ hiền lành được vào hoàng cung, lấy chồng hoàng tử và kết thúc ở đó. Truyện Tấm Cám còn có phần thứ hai, phản ánh cuộc đấu tranh gian nan và quyết liệt để giành và giữ hạnh phúc của Tấm. Cả hai phần của truyện đều thể hiện mơ ước thiện thắng ác và mơ ước về hạnh phúc của nhân dân lao động Việt Nam xưa.

1. Thân phận và con đường đến với hạnh phúc của cô gái mồ côi

Truyện kể “mẹ Tấm chết từ hồi Tấm mới biết đi”, lời kể đã xác định thân phận mồ côi của Tấm. Trong bao nỗi đau buồn của một đứa trẻ, có lẽ đau khổ thiệt thòi nhất là thiếu mẹ. Tục ngữ có câu “Cha chết ăn cơm với cá, mẹ chết liếm lá đầu chợ” để khái quát nỗi đau khổ, thiệt thòi vô cùng của đứa con mồ côi mẹ. Mồ côi cha đã khổ, mồ côi mẹ còn thiệt thòi, đau khổ hơn nhiều. Mọi đau khổ của Tấm đều bắt nguồn từ quan hệ với mẹ con người dì ghẻ. Tấm cô đơn chỉ biết khóc mỗi khi bị hành hạ. Bị Cám lừa trút mất giỏ tép, mất hi vọng có cái yếm đào, Tấm khóc. Cái yếm đào chỉ là một món quà bé nhỏ, nhưng với cô Tấm nghèo khó, mồ côi, đang ở tuổi trăng tròn, lại chẳng bao giờ được nhận một món quà nào thì nó thật đáng quý. Vì vậy, dường như Tấm không chỉ khóc vì bị mất yếm đào mà còn vì chút hi vọng được nhận yêu thương cũng tan biến mất. Bị lừa đi chăn trâu đồng xa để ở nhà mẹ con Cám làm thịt chú bống bé nhỏ bầu bạn với Tấm, Tấm lại khóc. Chú bống nhỏ bé, được cô nhường nhịn, chăm chút yêu thương trong bát cơm hẩm san sẻ cho bống và câu gọi thiết tha “Bống bống bang bang, lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người”. Với cô gái mồ côi không được nhận sự chăm sóc nào như Tấm thì chăm chút cho bống là một nhu cầu tình cảm, nhu cầu được chăm chút và sẻ chia. Vì vậy, việc giết bống đâu phải để thoả mãn sự tham ăn của mẹ con Cám mà là để hành hạ Tấm, phá đi chỗ dựa tình cảm của cô gái đơn côi. Cục máu bầm nổi trên mặt giếng như bằng chứng không lời về sự tàn bạo, độc ác của hành động giết bống. Lần thứ ba Tấm khóc là khi cô không được đi hội làng. Dì ghẻ trộn thóc với gạo bắt Tấm nhặt. Đến đây, sự hành hạ chẳng cần phải che đậy như những lần trước. Hội làng là ngày vui nhất trong năm. Mọi người từ già đến trẻ, từ giàu đến nghèo đều được đi hội và chia sẻ niềm vui chung, thế mà riêng Tấm bị bắt ở nhà, cô càng lẻ loi hơn. Tấm lại khóc và dường như tiếng khóc lại một lần nữa đẩy nỗi đau khổ của cô lên cao hơn.

Thân phận đầy đau khổ của cô Tấm trong truyện cổ là thân phận chung của những người nghèo, người mồ côi lương thiện trong xã hội xưa. Mâu thuẫn giữa Tấm với mẹ con dì ghẻ không chỉ là mâu thuẫn dì ghẻ – con chồng mà còn là biểu hiện cụ thể của xung đột thiện - ác trong cuộc đời. Tấm đại diện cho nhân vật thiện chăm chỉ, lương thiện, đôn hậu (bắt được đầy giỏ tép, đi chăn trâu đồng xa, nhịn cơm dành nuôi bống,...) Cái ác hiện hình trong mẹ con mụ dì ghẻ qua hành động: lừa gạt lấy mất giỏ tép để tước đoạt ước mơ bé nhỏ của Tấm là cái yếm đào; lén lút giết chết con bống là giết chết người bạn bé nhỏ của Tấm; trắng trợn trộn thóc với gạo nhằm dập tắt niềm vui được đi hội làng, được giao cảm với đời của cô,… Tiếng khóc tội nghiệp của Tấm mỗi lần bị chèn ép, áp bức có sức lay động mọi trái tim nhân hậu, gọi dậy niềm cảm thông, chia sẻ của mọi người.

Cái thiện càng bị o ép, áp bức, cái ác càng lộng hành, tác oai tác quái thì mâu thuẫn thiện - ác thể hiện càng sâu sắc, không thể dung hoà, tạo nên không khí căng thẳng buộc phải thay đổi.

Truyện cổ tích thần kì thường giải quyết mâu thuẫn ấy theo hướng: dù lâu hay mau, dù gian nan khó khăn đến thế nào, song thiện nhất định sẽ thắng ác và người lương thiện nhất định sẽ được nhận hạnh phúc. Con đường đến với hạnh phúc của nhân vật thiện chính là xu hướng giải quyết mâu thuẫn rất đặc trưng của cổ tích. Để giải quyết mâu thuẫn đó, truyện cổ tích thường sử dụng yếu tố kì ảo.

Truyện Tấm Cám, giải quyết mối xung đột thiện - ác cũng theo hướng thiện thắng ác và nhờ sự giúp sức của nhân vật Bụt. Bụt thường xuất hiện đúng lúc mỗi khi Tấm khóc, an ủi, nâng đỡ cô mỗi khi Tấm gặp khó khăn hay đau khổ. Tấm mất yếm đào - Bụt cho cá bống. Tấm mất bống - Bụt cho hi vọng đổi đời. Tấm không được đi hội - Bụt cho chim sẻ đến giúp Tấm, đưa Tấm đến hội, gặp nhà vua, được làm hoàng hậu và đạt đến đỉnh cao hạnh phúc. Bụt (tên gọi dân gian của Phật) vốn là nhân vật của Phật giáo, đã được dân gian hoá, trở thành ông lão hiền lành, tốt bụng, nhiều quyền năng, xuất hiện đúng lúc để nâng đỡ mơ ước, chữa lại số phận hẩm hiu cho người nghèo. Cùng với Bụt, con gà biết cảm thông với Tấm, chim sẻ biết giúp Tấm nhặt thóc ra thóc, gạo ra gạo, cũng là yếu tố kì ảo, trợ giúp Tấm trên đường tới hạnh phúc. Hoàng hậu Tấm là hình ảnh cao nhất về hạnh phúc mà nhân dân có thể mơ ước cho cô gái mồ côi nghèo, cô đơn trong xã hội xưa.

Những đau khổ của người mồ côi là có thực và phổ biến, còn hạnh phúc mà họ được hưởng thường rất hiếm hoi, phần lớn chỉ là mơ ước. Để phản ánh mơ ước về hạnh phúc qua nhân vật mồ côi, truyện cổ tích đã “chữa lại” số phận không may mắn cho họ. Điều đó thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời, hi vọng ở tương lai công bằng, dân chủ của nhân dân lao động.

Trong truyện Tấm Cám Việt Nam và những truyện tương tự của nước ngoài, các cô gái mồ côi đến với hạnh phúc nhờ đôi giày, vật báu trực tiếp đem lại may mắn. Nhờ chiếc giày cô gái đánh rơi mà nhà vua hay hoàng tử nhận ra người đẹp và kết hôn với cô. Hình ảnh đôi giày trong văn hoá một số nước có ý nghĩa giao duyên, là vật làm tin các chàng trai cô gái thường trao cho nhau trước hôn lễ. Các chú rể người Đức thường tặng cho vị hôn thê của mình một đôi giày trong lễ đính hôn. Khi cô gái ướm chân vào giày, chàng trai phải tự tay mình đóng nốt những chiếc đinh cuối cùng với hi vọng hôn nhân của họ sẽ bền chặt. Ở Trung Quốc, các cô gái dù chưa biết mặt người chồng tương lai của mình là ai vẫn cứ khâu một đôi giày vải hoặc tết một đôi giày rơm làm món quà tặng đầu tiên cho chồng. Ở Việt Nam, đôi giày không có ý nghĩa giao duyên, nhưng khi những người phụ nữ bình dân nghe tin loa truyền, ai đi vừa giày sẽ được làm hoàng hậu thì “đàn bà con gái trong đám hội chen nhau đến ướm chân vào giày”. Ướm chân hay chính là được một lần thử vận may của mình! Có ai không mơ ước hạnh phúc và có ai lại bỏ qua cơ hội kiếm tìm hạnh phúc cho mình. Ướm giày, họ hi vọng một may mắn tình cờ nào đó sẽ dẫn mình đến tương lai tốt đẹp. Nhưng truyện cổ tích không bao giờ có ngẫu nhiên cho những người bất kì. Chỉ có người đáng hưởng hạnh phúc nhất mới là người ướm chân vừa giày và nhận món quà may mắn của số phận. Ta hiểu rằng, đằng sau luỹ tre làng yên tĩnh luôn ấp ủ bao mơ ước lãng mạn và kì diệu của người nghèo, truyện cổ tích đã tạo hình cho những mơ ước đó và nuôi nó sống động trong những câu chuyện kể.

Tấm nhờ chăm chỉ, lương thiện mà được Bụt giúp đỡ, từ cô gái mồ côi nghèo trở thành hoàng hậu. Đó cũng là con đường đến với hạnh phúc của các nhân vật thiện như Tấm trong truyện cổ tích châu Âu và thế giới. Điều đó một mặt phản ánh ước mơ thiện thắng ác, mặt khác còn nêu triết lí “ở hiền gặp lành”, một triết lí phổ biến trong truyện cổ tích.

2. Cuộc đấu tranh giành và giữ hạnh phúc của cô gái mồ côi

Các truyện cổ tích châu Âu cùng kiểu với truyện Tấm Cám của Việt Nam thường kết thúc khi cô gái mồ côi kết hôn với hoàng tử và hưởng hạnh phúc. Truyện Tấm Cám không chỉ dừng ở kết thúc phổ biến đó mà còn tiếp thêm một chặng nữa của cuộc đời nhân vật. Tấm trở thành hoàng hậu nhưng vẫn bị cái ác tiêu diệt. Cô Tấm lương thiện, hiếu thảo trèo cau hái quả cúng cha đã bị mẹ con Cám chặt cây giết chết. Cô Tấm hiền lành, ngây thơ vừa ngã xuống, một cô gái mạnh mẽ và quyết liệt hơn sống dậy, hoá thân trở về với cuộc đời, công khai chống lại cái ác đòi hạnh phúc. Cuộc chiến đấu đó thật gian nan, quyết liệt nhưng cũng thật hấp dẫn đối với người nghe, người đọc truyện cổ tích. Bởi trong cuộc đời, những gì người mồ côi yếu thế, nhỏ nhoi không thể làm được thì cô Tấm đã thay họ thực hiện “ oán thì trả oán, ân thì trả ân” đến tận cùng.

Tấm thảo hiền bị dì ghẻ chặt cây sát hại mà không cam chịu chết. Cô hoá vàng anh, bay vào cung vua báo hiệu sự có mặt của mình trong lời nhắc nhở “Giặt áo chồng tao, thì giặt cho sạch, phơi áo chồng tao, thì phơi bằng sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao”, vàng anh bị giết chết. Tấm hoá cây xoan đào (khung cửi), tuyên chiến với kẻ thù trực tiếp và dữ dội hơn “Lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”, khung cửi bị đốt cháy. Từ đống tro tàn chết chóc, Tấm hoá cây thị (quả thị) trở lại với đời. Trong sự hoá thân ấy có sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm. Phải chăng trong nhân vật Tấm đã hội tụ sự dịu dàng và tính cách bất khuất của phụ nữ Việt Nam từ xa xưa.

Tấm đã hoá thân, cái thiện không chịu chết một cách oan ức trong im lặng đã vùng dậy, còn cái ác cũng tìm mọi cách tiêu diệt cái thiện. Những lần chết đi sống lại của Tấm phản ánh tính chất gay gắt, quyết liệt của cuộc chiến đấu giữa thiện với ác, đồng thời cũng thể hiện sức sống mãnh liệt, không thể bị tiêu diệt của cái thiện. Phải chăng cô Tấm có thể chết đi sống lại, có thể tự mình hoá thân để trở lại với đời? Chính những người dân nhân hậu và giàu tình thương đã không nỡ để một cô gái lương thiện như Tấm phải chết oan ức trong thầm lặng. Họ đã mượn yếu tố kì ảo, thổi sức sống mãnh liệt cho nhân vật, di dưỡng sức sống tiềm tàng trong đó, vực nhân vật dậy “đi trả thù và sống tự do”. Nhân dân đã gửi gắm vào nhân vật Tấm lòng nhân đạo, tình yêu thương con người sâu sắc của mình.

Chim vàng anh, cây xoan đào (khung cửi), cây thị (quả thị) là những nơi Tấm gửi gắm linh hồn, cũng là những vật bình dị thân thương trong cuộc sống dân dã. Đó cũng là những hình ảnh đẹp của làng quê, làm nên ấn tượng thẩm mĩ cho câu chuyện. Nếu như ở phần đầu truyện, mỗi lần Tấm khóc Bụt thường hiện lên ban tặng vật thần kì, thì ở phần sau, cuộc đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn nhưng Tấm không còn khóc, cũng không còn thấy sự xuất hiện của Bụt, chỉ thấy Tấm hành động liên tiếp để chống lại kẻ thù. Cũng chính nhân dân lao động, những người có thân phận như Tấm, những người thấu hiểu và cảm thương cô Tấm thiệt thòi, đã gửi vào nhân vật ấy ý thức mãnh liệt giành và giữ hạnh phúc của mình. Đằng sau câu chuyện đã gửi gắm một chân lí: Hạnh phúc chỉ bền chặt khi ta biết dũng cảm giành và giữ lấy. Vì vậy, nếu lúc đầu mỗi lần Tấm uất ức chỉ biết ngồi khóc, còn Bụt làm thay tất cả, thì đến đây chim vàng anh, khung cửi, quả thị (yếu tố kì ảo) không thay Tấm trong cuộc chiến đấu mà chỉ là nơi Tấm hoá thân, tạm ẩn mình để trở về đấu tranh với cái ác quyết liệt hơn.

Sau bao lần hoá thân chống lại kẻ thù, Tấm trở về với cuộc đời, với làng quê bình dị, vẫn là cô gái đảm đang khéo léo trong miếng trầu têm cánh phượng. Nhờ miếng trầu mà nhà vua nhận ra người vợ đảm của mình và đưa Tấm về cung. Miếng trầu là hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống văn hoá Việt Nam, gắn với phong tục hôn nhân người Việt “Miếng trầu nên dâu nhà người”, “Miếng trầu ăn ngọt như đường, đã ăn lấy của phải thương lấy người”…Miếng trầu mang ý nghĩa giao duyên như vậy đã có mặt trong sự hội ngộ của nhà vua và Tấm.

Nhưng sau nhiều lần chết đi sống lại trong lốt chim, cây, quả... dường như Tấm hiểu rằng không thể có hạnh phúc trọn vẹn chừng nào cái ác còn tồn tại, chừng nào mẹ con Cám còn hiện diện. Cô lừa Cám để nó sai người đào hố, giội nước sôi, tự tìm đến cái chết. Kết thúc đó nêu triết lí dân gian “ác giả ác báo”, phù hợp với mong ước của nhân dân về sự trừng phạt tận gốc kẻ thù. Cuối cùng, hạnh phúc đã trở về với Tấm như món quà tặng quý giá cho lòng chung thuỷ và sự dũng cảm của cô.

Sự hoá thân nhiều lần rồi trở về với cuộc đời của Tấm là biểu hiện sinh động của quan niệm về công bằng xã hội và hạnh phúc. Người lương thiện phải được nhận hạnh phúc, còn kẻ ác nhất định bị trừng phạt, đó là quy luật của lòng nhân đạo, tình yêu thương con người. Người lao động không chờ đợi hạnh phúc đẹp và mơ hồ ở cõi nào khác, mà tìm và giữ hạnh phúc thực sự ngay trên mảnh đất mình từng gắn bó, ở nơi trần thế. Những lần hoá thân ấy của Tấm đã hàm chứa nhiều triết lí dân gian sâu sắc về hạnh phúc và đấu tranh, đúng như có nhà thơ đã viết:

Không rơi xuống bùn, ôi trái thị quê ta,
Để bùn lấm và thành bùn vạn kiếp
Rơi vào tay người đó là định luật,
Của đấu tranh và nhân nghĩa Việt Nam.


Khi bàn về sự hoá thân của Tấm, có người cho đó là ảnh hưởng từ thuyết luân hồi nhà Phật (luân: vòng tròn, bánh xe; hồi: quay trở lại. Luân hồi là sự xoay vần liên tục. Một sinh vật sau khi chết sẽ chuyển sang hình hài một sinh vật khác: người, vật, cây cỏ... để trả nợ cho những gì kiếp trước mình đã phạm). Nhưng nếu có mượn thuyết luân hồi thì truyện Tấm Cám chỉ mượn hình thức để thể hiện mơ ước, tinh thần lạc quan của người lao động mà thôi. Bởi luân hồi nhà Phật là để chịu đau khổ do tội lỗi từ kiếp trước của mình, rồi sau đó tìm hạnh phúc ở cõi Niết bàn cực lạc xa xôi. Còn cô Tấm chết đi sống lại nhiều lần không phải để chịu khổ đau, cũng không định tìm hạnh phúc đẹp nhưng mơ hồ ở cõi Niết bàn mà để quyết giành và giữ hạnh phúc có thực của mình ngay ở thế giới này. Đó là lòng lạc quan, yêu đời và tinh thần thực tế của người lao động khi sáng tạo truyện cổ tích.

Cuộc chiến đấu giữa Tấm với mẹ con dì ghẻ gian nan, quyết liệt nhưng cuối cùng Tấm đã chiến thắng. Đó là chiến thắng tất yếu của cái thiện, của lòng nhân đạo và lạc quan theo quan niệm của nhân dân. Kết thúc có hậu trong truyện cổ tích là biểu hiện tập trung những ước mơ của tác giả dân gian. Hầu hết truyện cổ tích đều kết thúc có hậu: người nghèo sẽ giàu có, người mất vợ sẽ tìm lại được và sống hạnh phúc, người xấu xí, dị dạng trở nên xinh đẹp, người bị áp bức nhiều nhất sẽ bước lên địa vị tối cao, được làm vua hay hoàng hậu... Kết thúc đó mang đến ánh sáng và vẻ đẹp lãng mạn cho truyện cổ tích, làm cho nó có sức hấp dẫn đặc biệt đối với mọi thế hệ, thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời và niềm khát khao vươn tới cái đẹp, cái thiện của nhân dân lao động Việt Nam xưa. Cô Tấm nghèo khổ, bị hành hạ, chết đi sống lại, cuối cùng đã tiêu diệt cái ác, gặp lại chồng, trở về làm hoàng hậu bên những người dân hiền lành tốt bụng. Kết thúc đó còn mang mơ ước đổi đời của những người lao động nghèo, là bức tranh về một xã hội lí tưởng có “vua hiền, tôi giỏi”. Trong xã hội mơ ước đó, người lao động hiền lành, lương thiện đã được hưởng hạnh phúc.

Cũng như nhiều truyện dân gian khác, truyện Tấm Cám có nhiều dị bản. Những bản kể ra đời ở thời trung đại đều kết thúc khi Tấm giết Cám, làm mắm gửi về cho dì ghẻ. Mụ ăn cứ tấm tắc khen ngon, đến khi ăn hết mới nhận ra đầu lâu con mình ở đáy hũ liền lăn đùng ra chết. Không ít người từng hài lòng trước sự trừng phạt ấy, bởi Tấm đã thay mặt cái thiện để tiêu diệt cái ác, thực hiện công lí mang tính nhân dân; thể hiện quan niệm và mơ ước về sự chiến thắng tuyệt đối, tự mình tiêu diệt tận gốc kẻ thù. Mẹ con Cám đã không từ thủ đoạn độc ác nào để hành hạ Tấm, từ lừa gạt đến trắng trợn bóc lột, từ lén lút giết Tấm đến công khai đốt cô thành tro bụi…Tội ác man rợ đó đáng bị trừng trị, hơn thế theo quan niệm “làm ác trả ác”, “hại nhân nhân hại” thì sự trừng phạt ấy là đích đáng. Nhưng hiện nay, tính chất thời đại đã thay đổi, hình thức trừng phạt ấy khiến cho nhiều người cảm thấy rùng rợn và ấn tượng đẹp về một cô Tấm thảo hiền, đôn hậu bị giảm đi. Vì vậy truyện cổ tích Tấm Cámlại tiếp tục số phận lịch sử của nó trên chặng đường truyền miệng, lời kể đã được thay đổi cho phù hợp với nhu cầu và quan niệm thẩm mĩ ở thời hiện đại mà nó đang lưu truyền.

Bằng tưởng tượng của mình, hãy kể và tả hình ảnh cô Tấm trong truyện “ Tấm Cám”

Bài 24 : Bằng tưởng tượng, em hãy kể và tả hình ảnh cô Tấm trong truyện “ Tấm Cám”

Bài làm


-Bà ơi! Tấm và Cám như thế nào? Bà kể đi bà…

-Tấm là chị, Cám là em. Hai cô là chị em cùng cha khác mẹ. Tấm xinh đẹp nết na, có mái tóc xanh, đôi mắt mở to đen láy. Tấm hay lam hay làm, phúc hậu lắm. Tội nghiệp, thương lắm, Tấm mồ côi mẹ. Còn Cám là con dì ghẻ. Mẹ Cám nanh ác nên Cám có cái mồm nhọn như mõm chuột, hai cái tai bé tí, gian tham và ranh ma!...

Bà mất đã 6 năm, nhưng câu chuyện bà kể năm tôi lên bốn đến nay tôi vẫn còn nhớ. Nhiều đêm nằm mơ, tôi vẫn còn hình dung được bàn tay, giọng nói, nụ cười và gương mặt của Tấm.

Tấm có mái tóc dài, dài chấm lưng và đen nhánh. Đôi bàn tay khéo léo, nhanh nhẹn nên bữa nào mụ dì ghẻ bắt đi mò cua bắt tép, 

Tấm cũng bắt được nhiều hơn Cám. Tấm thật thà cả tin nên đã bị cô em gian giảo đánh lừa trút hết cua ốc tôm tép.

Ở hiền nên Tấm gặp lành. Tấm có con cá bống làm bạn khi đang sống trong cảnh ngộ tủi nhục, cô đơn. Tiếng Tấm dịu hiền gọi Bống làm em xúc động lắm : “ Bống bống bang bang, lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người” . Nhưng rồi con cá bống đáng yêu đó cũng bị mẹ con mụ dì ghẻ độc ác giết chết.

-Bà ơi! Chị Tấm có được đi hội không hở bà? Chị Tấm có được gặp Hoàng tử không hở bà?

-Mụ dì ghẻ đổ thóc trộn vào một đấu gạo, mụ bắt Tấm nhặt thóc. Mụ không muốn cho Tấm đi hội. Mụ chỉ muốn Cám, con gái ruột của mụ được gặp Hoàng tử thôi…

Tiếng bà kể, tôi vẫn nhớ. Bụt đã sai đàn chim sẻ bay xuống nhặt thóc giúp Tấm. Bụt ban cho Tấm một bộ lụa hồng, giày thêu… để mặc đi hội. Qua chỗ lội, Tấm đánh rơi mất một chiếc giày. Trong bộ quần áo lụa hồng , Tấm đẹp như cô Tiên giáng trần. Hoàng tử say đắm và đưa Tấm về cưới làm vợ.

Mẹ con mụ dì ghẻ đã lập mưu giết chết Tấm để cướp ngôi hoàng hậu. Con Vàng Anh biết nói tiếng người, trái thị thơm mà bà bảo đó là kiếp đời cô Tấm đó: “ Thị Thơm, Thị rụng bị bà, bà để bà ngửi chứ bà không ăn”…Những ngày tháng Tấm ở với bà cụ hàng nước là những ngày tháng ấm áp nhất đối với Tấm. Tấm được sống trong tình thương mẹ con. Bàn tay của Tấm nõn nà khéo léo như búp ngọc, lúc bổ cau, lúc têm trầu. CHính miếng trầu cánh phượng của Tấm têm sáng hôm ấy đã làm cho Hoàng tử nhận ra người đẹp sau bao lần hóa kiếp.

-Có chuyện Ông tơ bà Nguyệt không hở bà?

-Có chứ! Bụt là ông Tơ Hồng xe duyên cho Tấm và Hoàng tử nên vợ chồng đó.

Năm nay, tôi đã 10 tuổi, nhiều đêm nằm mơ, tôi vẫn gặp cô Tấm Hoàng hậu xinh đẹp trong truyện cổ tích bà kể ngày xưa.

Nguyễn Thị Ngọc Tần, 5B
Trường Tiểu học Đồng Nhân
Quận Hai Bà Trưng- Hà Nội*

Miêu tả bạn thân của mình

Bài 25 : Em hãy miêu tả người bạn thân nhất của em.

Bài làm

Người bạn thân nhất của em.
Nguyễn Thị Thanh Xuân, nữ sinh lớp 5B được cả lớp bình bầu là học sinh xuất sắc nhất trong năm học. Xuân đạt danh hiệu Học sinh giỏi bốn năm liên tục. Cô giáo Hòa đã nói về Xuân : “ Là đứa con hiếu thảo , là học sinh chăm học, chăm làm, xuất sắc đứng đầu lớp. là người bạn hiền giàu tình thương”. Bạn Hồng ốm, nằm viện hai tuần, Xuân đã đến tận nhà giúp bạn học tập đuổi kịp chương trình. Xuân vận động, quyên góp lớp 5B được 675,000 đồng giúp bố bạn Nhanh đi viện mổ tim. Xuân đã có sáng kiến đề nghị cô giáo và các bạn lấy ngày thứ hai hằng tuần làm Ngày học tốt, ngày thứ bảy làm ngày Xanh, sạch, đẹp lớp trường.
Dáng người thanh tú, gương mặt tươi sáng, dịu hiền, phong thái đoan trang, Xuân rất được các bạn quý mến. Bạn rất khiêm tốn, quan tâm giúp đỡ mọi người. Nụ cười của Xuân là nguồn động viên lớn lao của tập thể lớp 5B.

Thanh Xuân là người bạn thân nhất của em. Mẹ XUân là bác sĩ Quân y, thường nói: “ Trông hai đứa chúng mày như chị em sinh đôi, vừa xinh đẹp, vừa giỏi giang, đáng yêu lắm !...”
Trương Thị Khánh Hoài
Trường Tiểu học Xuân Đỉnh , Hà Nội*