Wednesday, October 10, 2012

Các bài đồng dao cho bé


Chim ri là dì sáo sậu
Sáo sậu là cậu sáo đen
Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các
Bồ các là bác chim ri
Chim ri ...

hay

Kỳ nhông là ông kỳ đà
Kỳ đà là cha cắc ké
Cắc ké là mẹ kỳ nhông
Kỳ nhông ...

hay

Bí ngô là cô đậu nành
Đậu nành là anh dưa chuột
Dưa chuột cậu ruột dưa gang
Dưa gang cùng hàng dưa hấu
Dưa hấu là cậu bí ngô
Bí ngô ...

hay

Trọc gì ? Trọc đầu
Đầu gì? Đầu tàu
Tàu gì? Tàu hoả
Hoả gì? Hoả tốc
Tốc gì? Tốc hành
Hành gì? Hành củ
Củ gì ? Củ khoai
Khoai gì ? Khoai lang
Lang gì ? Lang trọc
Trọc gì ? Trọc đầu ...

Một số bài khác

Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng, khóc ngồi
Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng



Con mèo trèo lên cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đàng xa
Mua mắm, mua muối giỗ cha con mèo



Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Thả trâu ăn lúa ...gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ trên đồi
Mẹ thì cưỡi ngựa đi mời quan viên
Ông Sấm, ông Sét
Ông hét đùng đùng
Ông nổ lung tung
Vỡ vung, vỡ nồi
Vỡ cả bát đĩa nhà tôi...
Tôi lôi ông ra đánh
Đánh một roi
Đánh hai roi
Ông trốn về trời
Ơi ông Sấm ông Sét ơi...
Buổi sáng ngủ dậy
Ăn bụng cơm no
Chạy ra ngoài gò
Bắt một con công
Đem về biếu ông
Ông cho trái thị
Đem về biếu chị
Chị cho bánh khô
Đem về biếu cô
Cô cho bánh ú
Đem về biếu chú
Chú cho buồng cau
Nay chừ chú thím giận nhau
Đem trả buồng cau cho chú
Trả bánh ú cho cô
Trả bánh khô cho chị
Trả trái thị cho ông
Bắt con công, đem về nhà.



Ông trẳng, ông trăng
xuống chơi ông chánh
Ông chánh cho mõ
xuống chơi nồi chõ
nồi chõ cho vung
xuống chơi cây sung
cây sung cho nhựa
xuống chơi con ngưạ
con ngựa cho gan
xuống chơi bà quan
bà quan cho bạc
xuống chơi thợ giác
thợ giác cho bầu
xuống chơi cần câu
cần câu cho lưỡi
xuống chơi cây bưởi
cây bưởi cho hoa
xuống chơi vườn cà
vườn cà cho trái
xuống chơi con gái
con gái cho chồng
xuống chơi đàn ông
đàn ông cho vợ
xuống chơi kẻ chợ
kẻ chợ cho voi
xuống chơi cây sòi
cây sòi cho lá
xuống chơi con cá
con cá cho vây
xuống chơi ông thầy
ông thầy cho sách
xuống chơi thợ ngạch
thợ ngạch cho dao
xuống chơi thợ rào
thợ rào cho búa
Trả búa thợ rào
Trả dao thợ ngạch
Trả sách ông thầy
Trả vây con cá
Trả lá cây sòi
Trả voi kẻ chợ
trả vợ đàn ông
Trả chồng cô gái
Trả trái cây cà
Trả hoa cây bưởi
Trả lưỡi cần câu
Trả bầu thợ giác
Trả bạc bà quan
Trả gan con ngựa
Trả nhựa cây sung
Trả vung nồi chõ
Trả mõ ông chánh.

Sưu tầm

Tuesday, October 9, 2012

Bài học về cuộc sống từ những câu chuyện


Một câu chuyện của Ấn Độ
HHT

Ngày xưa, có một họa sĩ tên là Ranga, một người siêu việt, vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng dều khen ngợi.

Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai, cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa học. Ông nói, một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó. Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá, ước định của ông, và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.

Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất, chăm chỉ, sáng tạo,nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.

Một ngày kia, sau bao nhiêu cố gắng, Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:

- Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi.

Rajeev làm việc ngày đêm, trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:

- Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng. Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó.

Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.

Sau hai ngày, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác, nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.

Hai ngày sau, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:

- Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách nhiệm hay nghiêm túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết - những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con phải vất vả để làm ra được, đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.

Bài học về cuộc sống từ những câu chuyện


Một câu chuyện của Ấn Độ
HHT

Ngày xưa, có một họa sĩ tên là Ranga, một người siêu việt, vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng dều khen ngợi.

Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai, cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa học. Ông nói, một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó. Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá, ước định của ông, và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.

Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất, chăm chỉ, sáng tạo,nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev.

Một ngày kia, sau bao nhiêu cố gắng, Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo:

- Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi.

Rajeev làm việc ngày đêm, trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo:

- Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng. Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó.

Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất.

Sau hai ngày, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác, nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy.

Hai ngày sau, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói:

- Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách nhiệm hay nghiêm túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết - những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con phải vất vả để làm ra được, đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.

4 lý do người nào đó có thể từ chối sự giúp đỡ của bạn

Khi bạn cố gắng giúp đỡ ai đó, bạn có thể cảm thấy như một sự xúc phạm cá nhân khi họ từ chối bạn. Vì vậy, rất hữu ích để khám phá những gì bên dưới,có thể là động cơ thúc đẩy họ từ chối những nỗ lực giúp đỡ chân thành của bạn. Đặc biệt là khi phản ứng tiêu cực của họ có thể gây ngạc nhiên hoặc bối rối cho bạn, hoặc thậm chí có vẻ họ ngu dốt hoặc ngoan cố.
Để hiểu rõ hơn về hành động vô lý của người khác khi không sẵn sàng đón nhận những điều tốt đẹp bạn trao cho họ, sau đây là 4 câu hỏi cho bạn (và cũng có thể để hỏi họ):

(1) Có thể họ quá tự trọng để chấp nhận sự giúp đỡ của bạn? Vì đó là vấn đề lòng tự trọng cá nhân, họ có thể cảm thấy đón nhận những gì bạn tặng tức là thừa nhận sự thua kém, sự khiếm khuyết, sự phụ thuộc hoặc sự thất bại. Đó có thể là trường hợp khi bạn đề xuất một món quà về tài chính hoặc sự hỗ trợ cụ thể về điều gì đó mà người đó đang phải vật lộn. Giúp đỡ họ về tiền bạc, ngay cả nếu chỉ là tạm thời, có thể làm họ cảm thấy bị thương hại. Thêm nữa, chấp nhận sự giúp đỡ không liên quan đến tiền về một nhiệm vụ hoặc một dự án có thể được họ trải nghiệm như sự thừa nhận một sự không có khả năng tự mình hoàn thành công việc thành công.

(2) Có thể họ cảm thấy mình không xứng đáng để chấp nhận sự giúp đỡ của bạn? Họ có thể lớn lên trong một gia đình thường xuyên nhận được thông điệp từ những người chăm sóc, từ bố mẹ rằng họ không được phép đòi hỏi. Và yêu cầu điều gì đó được xem là ích kỷ - một hành vi họ cần phải cự tuyệt. Nếu như vậy, họ có thể cảm thấy họ không có quyền chấp nhận những gì bạn trao tặng cho họ. Vì trong quá khứ họ chưa nhận được đủ sự hỗ trợ.

Đó là những cảm xúc chi phối hành vi, chúng ta có thể giả định một cách an toàn là nếu những cá nhân đó cho phép bản thân họ được nhận những gì bạn tặng miễn phí, họ sẽ cảm thấy tội lỗi. Đó có thể là cảm xúc liên quan chặt chẽ đến sự vi phạm 1 quy tắc trong gia đình. Họ thậm chí có thể cảm thấy lo lắng nếu họ 'dám' chấp nhận sự hào phóng của bạn, họ sẽ bị trừng phạt (ví dụ, tiếng nói phê phán của cha mẹ vẫn vang vọng trong đầu họ). 

(3) Có thể họ kết nối việc chấp nhận giúp đỡ với sự phát sinh một cảm giác nghĩa vụ nặng nề? Họ có thể không muốn phải chịu ơn bất kì ai cho bất cứ điều gì. Đối với họ, tất cả các sự trợ giúp bên ngoài như mang theo một thẻ giá đắt, như ngầm đòi hỏi có đi có lại và sau đó sẽ gây bất lợi nghiêm trọng cho họ. Vì vậy, sự giúp đỡ của bạn có thể đe dọa ý thức độc lập, tự do, sự an toàn hoặc tự chủ của họ.
Trong những trường hợp này, họ buộc phải từ chối bất cứ điều gì mà bạn hoặc bất kỳ ai khác có thể muốn giúp họ.

Nếu trong quá khứ, những điều kiện ràng buộc hầu như luôn luôn đi kèm với bất cứ thứ gì họ nhận được, họ có thể đã quyết định (cho dù họ ý thức được hay không) rằng tốt nhất là không bao giờ chấp nhận sự giúp đỡ từ người khác. Những người có vẻ quá độc lập có thể đã học được điều đó vì kinh nghiệm của họ đã xác nhận quan điểm cho rằng nhận bất cứ thứ gì từ bất kỳ ai đơn giản là quá rủi ro, nguy hiểm.

Vì vậy, khá dễ hiểu, họ kết luận rằng tốt hơn hoặc an toàn hơn là từ chối những món quà hoặc sự hỗ trợ, hơn là mắc nợ bất cứ ai.

(4) Có thể họ gắn việc nhận sự giúp đỡ từ người khác làm cho họ dễ bị tổn thương hơn trước người đó? Đây là 1 lời giải thích bao quát toàn bộ. 3 lời giải thích đầu có thể được xem một cách gián tiếp, như một sự đòi hỏi cần phải có một sự sẵn sàng lớn hơn để trải nghiệm tính dễ bị tổn thương về mặt cá nhân. Nhưng ở đây, tôi tập trung vào nỗi sợ của cá nhân khi chấp nhận điều gì đó vì vấn đề tin tưởng. Họ có thể sợ rằng 'nhận được' - đối lập với 'cho đi' - sẽ đặt họ vào vị trí phụ thuộc trong mối quan hệ, nó sẽ làm giảm khả năng của họ để tiến lên, để bảo vệ bản thân.

Nếu trong quá khứ, những sự 'nhận được' bất ngờ như vậy được sử dụng để chống lại họ thì sau này, tại sao họ phải mở lòng mình trước những khả năng tái trải nghiệm sự phản bội? 

Trong quá khứ, nạn nhân đã được ai đó thuyết phục rằng hoàn toàn ổn khi chấp nhận một số kiểu 'bổng lộc' không do mình kiếm được, họ đã học được một bài học đau buồn về sự không tin tưởng. Nếu trước đây món quà nhận họ được trong thực tế là một công cụ của sự thao túng thì bây giờ, bất cứ điều gì trông giống như một sự cho không có thể khuấy động sự hoài nghi của họ, khiến họ kiên quyết từ chối.

Một ví dụ cực đoan của 'sự không tin tưởng học được' này có thể là một cá nhân từng bị lạm dụng tình dục khi còn là 1 đứa trẻ- bởi một người 'chu đáo' với họ , lạm dụng tình dục thông qua việc tặng quà hoặc sự giúp đỡ có trù tính trước. Nạn nhân cảm thấy mình đặc biệt, có giá trị, được yêu thương bởi kẻ lạm dụng, tới một mức độ nào đó họ cảm thấy mình phải bằng lòng trước những sự thân mật thân thể gia tăng đối với họ. Sang chấn đầu đời như vậy có thể dẫn đến sự không tin tưởng lâu dài đối với bất kỳ ai tỏ ra quan tâm họ - bất kỳ ai mang lại cho họ điều gì hoặc giúp họ việc gì đó.

Lần tới, nếu một người mà bạn chân thành muốn hỗ trợ ( cả về thời gian, năng lượng hoặc tiền bạc) gạt bỏ đề nghị của bạn, sau đó - thay vì xem nó là vấn đề của cá nhân bạn - hãy nghĩ về điều gì có thể làm cho họ không thể sẵn sàng đón nhận sự hào phóng của bạn.



Nguồn: psychologytoday.com

Tại sao mọi người xem phim kinh dị, sống ở khách sạn băng và ăn kem có vị thịt xông khói

Chúng ta sống trong 1 xã hội tiêu thụ: không chỉ tiêu thụ vật chất mà còn tiêu thụ những ý tưởng, quan điểm. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm những thông tin mới và những kinh nghiệm khác thường để thêm vào bộ sưu tập tinh thần không ngừng mở rộng của chúng ta 

Tiêu thụ quan điểm tiêu cực

Ý kiến cho rằng mọi người là những người 'tiêu thụ các quan điểm' một cách tham lam không có gì mới, nhưng nó chỉ mới bắt đầu xuất hiện trong các tài liệu tâm lý học.

Trong 1 bài báo xuất bản trong 'Annual Review of Psychology', Dan Ariely và Michael I. Norton chỉ ra rằng 'tiêu thụ quan điểm' đặc biệt hữu ích để lý giải tại sao mọi người lựa chọn những kiểu kinh nghiệm tiêu cực nào đó (Ariely & Norton, 2009; PDF).

Lấy những phim kinh dị làm ví dụ. Nhiều năm qua, tất cả các kiểu giải thích được đưa ra để lý giải tại sao mọi người chủ động xem phim kinh dị: ở đó có 1 kiểu niềm vui trộn lẫn với nỗi sợ hãi (Andrade & Cohen, 2007); rằng họ cảm thấy nhẹ nhõm khi phim kết thúc; rằng họ thích sự 'khẩn cấp' trong khi biết là không có đe doạ nào cả. Và còn hơn thế nữa.

Phim kinh dị có thể chỉ là 1 hương vị thiểu số trong số những tình huống phổ biến khác mà ở đó mọi người lựa chọn những trải nghiệm họ biết trước là sẽ không thoải mái. Trong 1 nghiên cứu của Keinan và Kivetz (2008) những người tham gia được đưa cho sự lựa chọn là 1 chuyến du lịch miễn phí đến khách sạn Marriott ở Florida hoặc khách sạn băng ở Quebec. Thật lạ lùng, hầu hết thích đến khách sạn băng mặc dù khách sạn Marriott sẽ dễ chịu hơn.

Mọi người cũng sẽ sung sướng khi đưa ra những lựa chọn về thức ăn. Trong nghiên cứu khác của Keinan và Kivetz (2008) những người tham gia được đưa cho 1 sự lựa chọn giữa loại kem có mùi vị 'bình thường' và kem có mùi vị thịt xông khói. Bây giờ bạn sẽ không ngạc nhiên khi biết nhiều người thích kem vị thịt xông khói hơn mặc dù họ biết rằng loại kem đó sẽ ít làm họ vừa ý hơn.

3 ví dụ trên đã phần nào giải thích được sự khao khát 'tiêu thụ những quan điểm' của mọi người. Khi mọi người chọn khách sạn băng, phim kinh dị và kem vị thịt xông khói, họ đang chọn nhiều thứ hơn nữa. Họ biết rằng phim kinh dị sẽ làm họ sợ hãi, giường băng sẽ làm họ không thoải mái và kem vị thịt sẽ thật kỳ lạ, nhưng có một phần thưởng rõ ràng trong việc 'tiêu thụ quan điểm'. Họ cũng rất thích những ý tưởng của mỗi điều đó và họ muốn 'chiếm hữu' kinh nghiệm.

Nó cũng là vấn đề về hình ảnh bản thân. Mọi người muốn nhìn bản thân, và được nhìn nhận bởi người khác, như là mọt người thú vị khi lựa chọn những kinh nghiệm khác nhau cho bản thân. Sưu tập kinh nghiệm thực sự rất giống với sưu tập bưu thiếp hoặc nắp chai, nhưng khác ở chỗ nó hướng đến quan điểm nhiều hơn là vật chất.

Tiêu thụ quan điểm tích cực

Những tính năng: mọi người thường chọn những sản phẩm với rất nhiều tính năng mà họ không bao giờ sử dụng. Điều này có thể chủ yếu là họ muốn thể hiện việc mua sắm của mình trước những người khác. Chỉ mỗi cái ý tưởng có 1 cái máy ảnh tốt hơn người khác đã đủ để dập tắt những suy nghĩ nhàm chán về khả năng sử dụng. Tất nhiên các nhà sản xuất nhận ra được điều này, do đó các thiết bị điện tử được đóng gói với vô số tính năng mà hầu hết chúng ta không bao giờ sử dụng đến.

Từ thiện: Quyên tiền cho hội từ thiện dường như mang lại những lợi ích tích cực đối với người cho tiền. Tặng tiền của chúng ta cho người khác thực sự làm chúng ta hạnh phúc hơn là tiêu nó cho bản thân (Dunn, Aknin & Norton, 2008). Ở đây, nó có thể là quan điểm từ thiện làm chúng ta hạnh phúc hơn là có tiền hoặc những hàng hoá tương đương.

Cuộc sống thứ hai: mọi người trong những thế giới ảo hạnh phúc chuyển đổi tiền trong thế giới thật của họ thành tiền ảo để mua sắm quần áo cho avata của họ (đối tượng đại diện cho bản thân họ) hoặc để trang trí những ngôi nhà ảo của họ. Khi xem xét thông qua ống kính của 'tiêu thụ quan điểm' thì điều này là hoàn toàn hợp lý.

Hãy nhìn xung quanh, 'tiêu thụ quan điểm' ở khắp mọi nơi. Những vật như sách, chương trình TV, blog, báo và tạp chí - tất cả những cái đó đem đến cho chúng ta những ý tưởng mới và những cách nhìn nhận mới về thế giới - chỉ là đỉnh của tảng băng trôi. Ngay cả những thứ chúng ta nghĩ chủ yếu là tiêu thụ vật chất cũng không thực sự là vật chất tất cả. Các nhà quảng cáo hiểu điều này rất tốt: những gì họ đang cố gắng bán không chỉ là những sản phẩm mà còn là những ý tưởng, thường ở dưới hình thức của 'phong cách sống'.

Như Ariely và Norton đã chỉ ra, ngay cả một số việc đơn giản như ăn 1 cái bánh cũng đầy những câu hỏi quan điểm. Chúng ta ăn theo chế độ ăn gì? Đó có phải là bánh hữu cơ? Đồng nghiệp sẽ nghĩ gì nếu họ nhìn thấy chúng ta đang ăn bánh? Các câu hỏi cứ tiếp tục và tiếp tục.

Tâm trí chúng ta yêu thích tiêu thụ những quan điểm (gần) nhiều như cơ thể thèm khát thức ăn. Cũng giống như sự ngon miệng đối với thức ăn của chúng ta, 'sự ngon miệng' của chúng ta đối với những quan điểm chỉ được thỏa mãn trong một khoảng thời gian ngắn trước khi chúng ta đói trở lại.


Nguồn: spring.org.uk

Khoảng cách tâm lý: 10 hiệu ứng thú vị của một sự sửa đổi tâm trí đơn giản

Suy nghĩ ở khoảng cách xa: sức mạnh đáng kinh ngạc của suy nghĩ trừu tượng.

'Mind hack' nghĩa là sửa đổi tâm trí của bạn.

Kiểu 'Mind hack' này thật đơn giản: bạn tưởng tượng mình như là đang ở tương lai, hoặc sống ở một đất nước khác hoặc như là một con người khác. Mục đích là để có cảm giác của sự tách rời của việc bước ra khỏi chính mình bằng bất cứ phương tiện nào bạn có thể dùng.

Điều này đặt bạn vào một khoảng cách tâm lý của tâm trí mà có tất cả những kiểu ảnh hưởng lên những nhận thức của bạn về thế giới. Sau đây là 10 ví dụ yêu thích của tôi:

1. Làm cho những nhiệm vụ mang tính thử thách có vẻ dễ dàng hơn

Khi bạn thấy một nhiệm vụ là khó khăn, gia tăng khoảng cách tâm lý với nhiệm vụ đó sẽ làm bạn cảm thấy dễ dàng hơn:

"Kích hoạt 1 suy nghĩ trừu tượng giúp làm giảm cảm giác khó khăn.
Những người tham gia thấy nhiệm vụ ít khó khăn hơn khi họ tạo khoảng cách giữa họ với nhiệm vụ bằng cách dựa lưng vào ghế ngồi của họ."(Thomas & Tsai, 2011)

Như vậy, điều này đúng với khoảng cách vật lý cũng như khoảng cách tâm lý.

2. Tạo ra sự tự hiểu biết sâu sắc

Khi mọi việc hư hỏng, thất bại trong cuộc sống và bạn đang cố tìm ra lý do, khoảng cách tâm lý có thể giúp bạn:

"...Hướng dẫn mọi người phân tích những cảm xúc của họ xung quanh những kinh nghiệm tiêu cực về tiểu sử bản thân từ một quan điểm cách xa cái tôi (self-distanced perspective) (ví dụ, suy nghĩ về bản thân từ viễn cảnh của một sự 'bay trên tường'), so với 1 quan điểm chìm đắm trong cái tôi (self-immersed perspective) (quan điểm người thứ nhất), làm cho họ trải nghiệm những phản ứng về sinh lý và cảm xúc ít hơn trong ngắn hạn, giúp họ chống lại những hậu quả tiêu cực gắn liền với sự nghiền ngẫm, nhai lại theo thời gian."(Ayduk & Kross, 2010)

3. Trở nên có sức thuyết phục hơn

Khi mọi người đang cân nhắc một việc mua hàng, họ dễ bị thuyết phục hơn khi bạn nhắm đến sự xa cách tâm lý:

"Những phát hiện từ hai nghiên cứu thực nghiệm, đều cho thấy người tiêu dùng trong một tư duy tiền quyết định (tức là, người tiêu dùng vẫn còn cân nhắc về một quyết định chưa được giải quyết ), có nhiều khả năng được thuyết phục bởi thông điệp với định hướng tâm lý xa xôi, trong đó nhấn mạnh về tương lai hoặc nhắm vào một mục tiêu xa .. " ( Nenkov , 2012) .

4. Đạt được sự kiểm soát cảm xúc bản thân

Khoảng cách tâm lý có thể mang lại cho chúng ta khoảng cách về cảm xúc:

"...những cảnh tiêu cực có xu hướng trở nên ít tiêu cực và ít kích động cảm xúc hơn khi tưởng tượng nó đi xa, và ngược lại khi tưởng tượng nó di chuyển về phía người quan sát."(Davis et al., 2011)

Nếu bạn là 1 người rất dễ xúc động, khoảng cách tâm lý có thể là 1 kỹ thuật hữu ích để kiểm soát những cảm xúc của bạn:

"một sự kết hợp bổ sung của khoảng cách tâm lý với quan điểm quen thuộc của 1 người nhìn chung thường dẫn đến sự điều hoà cảm xúc tốt hơn; cụ thể là, những cá nhân có kiểu gắn bó tránh né cao (avoidant attachment), người thường tạo khoảng cách giữa bản thân với những kinh nghiệm của họ, có thể có được lợi ích từ sự đắm mình về mặt tâm lý, trong khi đó những cá nhân với kiểu gắn bó lo lắng cao (anxious attachment), người thường đắm mình vào những kinh nghiệm của họ, có thể có lợi ích từ su việc tạo khoảng cách tâm lý." (Wang et al., 2012)

5. Hãy coi chừng ảo tưởng về độ sâu của lời giải thích!

Không phải tất cả những hiệu ứng của suy nghĩ trừu tượng là tích cực. Một trong những mối nguy hiểm của suy nghĩ trừu tượng là nó làm chúng ta nghĩ rằng mình hiểu biết về điều gì đó tốt hơn thực tế của chúng ta. Đây được gọi là 'ảo tưởng về độ sâu của lời giải thích' (illusion of explanatory depth):

"...nhiều người biết một cách mơ hồ rằng một trận động đất xảy ra vì hai địa chất va chạm và chuyển động tương đối với nhau , nhưng một lần nữa họ biết rất ít về cơ chế ban đầu tạo ra những sự va chạm. Tuy nhiên, người ta tin rằng họ hiểu các khái niệm khá sâu sắc, và ngạc nhiên bởi sự nông cạn của lời giải thích của họ khi được nhắc hãy mô tả các khái niệm."(Alter et al., 2010)

Vì vậy:
"Mặc dù trí tuệ dân gian cho thấy rằng chúng ta thường không nhìn thấy rừng cây, đôi khi mối quan tâm lớn hơn là chúng ta không nhìn thấy những cái cây trong rừng "(Alter et al., 2010)

6. Chân thực với bản thân
Khoảng cách tâm lý có thể làm cho chúng ta ít bị ảnh hưởng trước ảnh hưởng xã hội vì nó ...

"...có thể giúp chỉ đạo hành động ở một khoảng cách bởi luôn phản ánh giá trị cốt lõi và lý tưởng của một người, có thể được chia sẻ trong các mối quan hệ quan trọng hoặc các nhóm." ( Ledgerwood et al , 2010) .

Nói cách khác: khi chúng ta suy nghĩ trừu tượng hoặc với khoảng cách tâm lý, chúng ta thật hơn với bản thân.

7. Trở nên lịch sự hơn
Mọi người có xu hướng trở nên lịch sự hơn khi họ suy nghĩ trừu tượng:
"8 nghiên cứu cho thấy sự lịch sự gắn liền với sự phân tích, khoảng cách thời gian và khoảng cách không gian ở cấp độ cao."(Stephan et al., 2010)

8. Kích thích sự sáng tạo của bạn
"Mọi người thường khuyên bạn nên tạo khoảng cách vật lý với những bế tắc bằng cách nghỉ giải lao, nhưng khoảng cách tâm lý cũng có thể là hữu ích. Những người tham gia trong 1 nghiên cứu được hướng dẫn nghĩ về nguồn gốc của một nhiệm vụ ở một khoảng cách, đã xử lý được nhiều vấn đề hơn gấp 2 lần so với những người được chỉ dẫn xử lý nhiệm vụ với trạng thái gần ( về không gian, thời gian) (Jia et al., 2009)."

9. Cải thiện sự tự kiểm soát bản thân
"...những người tham gia được khuyến khích suy nghĩ trừu tượng ở cấp độ cao, với những thuật ngữ trừu tượng đã cho thấy khả năng tự kiểm soát bản thân lớn hơn trong việc chịu đựng sự không thoải mái của sự nắm chặt tay nhằm nhận được những thông số chính xác về tính cách."

10. Kích hoạt những suy nghĩ thông minh
Thông minh có nghĩa là nhìn thấy bức tranh lớn hơn. Suy nghĩ trừu tượng và khoảng cách tâm lý có thể giúp bạn làm điều đó:

"2 thực nghiệm cho thấy việc gợi ý mọi người về lý do về những vấn đề ý nghĩa cá nhân ( Nghiên cứu 1: triển vọng nghề nghiệp cho những người thất nghiệp trong suốt thời gian suy thoái kinh tế; Nghiên cứu 2: Mong đợi những thay đổi xã hội gắn liền với ứng cử viên được chọn thua cuộc trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ 2008) từ một tương lai xa làm tăng cường những lập luận thông minh ( phép biện chứng; sự khiêm tốn về trí tuệ), những thái độ ( Thái độ liên quan đến sự hợp tác), và hành vi thông minh" (Kross & Grossmann, 2011).


Nguồn: spring.org.uk

Âm nhạc + Ngôn ngữ cơ thể = Phấn khích hơn

Xem 1 ban nhạc diễn sống là trải nghiệm hấp dẫn hơn rất nhiều so với nghe nhạc ở nhà. Nhưng đó không chỉ là bầu không khí của sự kiện mà nó còn là những biểu hiện vẻ mặt và những động tác của ca sĩ đã nâng cao trải nghiệm cảm xúc của chúng ta.

Hiếm có ca sĩ nào giữ được khuôn mặt vô cảm khi họ hát. Hãy nghĩ về nghệ sỹ nhạc jazz như Ella Fitzgerald, nhạc blues như B. B. King hoặc nhạc pop như Michael Jackson. Khi họ hát, khuôn mặt của họ truyền đạt cảm xúc trong âm nhạc, đôi khi có vẻ như họ đang vật lộn với những cảm xúc. Một phần của cái hay của 1 buổi biểu diễn sống đó là được nhìn thấy khuôn mặt của ca sĩ khi họ tương tác với âm nhạc, với những nhạc sĩ khác và với khán giả. Những biểu hiện trên khuôn mặt của họ thường là một phần của âm nhạc.

Những biểu hiện khuôn mặt ảnh hưởng đến sự lĩnh hội âm nhạc.

Bằng cách nào mà những biểu hiện của khuôn mặt trong khi hát ảnh hưởng đến sự lĩnh hội âm nhạc? Có 1 hiện tượng nổi tiếng trong tâm lý học được gọi là hiệu ứng McGurk. Nó giải thích rằng những gì khán giả nghe bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những gì họ nhìn thấy. Điều này cho thấy, những biểu hiện khuôn mặt của ca sĩ có thể có những tác động to lớn đến sự lĩnh hội âm nhạc của chúng ta. Trong 1 loạt thực nghiệm đơn giản, Thompson, Graham và Russo (2005) cho thấy hiệu ứng McGurk quan trọng như thế nào khi chúng ta đang xem ca sĩ hát so với khi chúng ta chỉ được nghe âm thanh.

Thực nghiệm 1: Một số người tham gia được nghe nhạc blues của B. B. King, trong khi những người khác được nghe và xem ông ấy hát. Những người được xem cả video và audio đánh giá mức độ 'nghịch tai' (khi âm nhạc chói tai) cao hơn tại những điểm khi B. B. King nheo mắt, lắc đầu và lắc mình.

Thực nghiệm 2: Khi cố gắng đánh giá những thay đổi độ cao giữa các nốt nhạc, những người tham gia chỉ được xem video hầu như làm tốt bằng những người chỉ được nghe audio. Điều này khá ấn tượng.

Thực nghiệm 3: Một số người tham gia nhìn thấy những biểu hiện khuôn mặt liên quan đến sự thay đổi độ cao âm nhạc phù hợp với audio, trong khi những người khác được xem những biểu hiện khuôn mặt không phù hợp với audio. Khi video không phù hợp với audio, mọi người đánh giá độ cao âm nhạc ít chính xác hơn.

Điều này giống như hiệu ứng McGurk về thính giác. Vì video cho thấy độ cao âm thanh đi xuống nên những đánh giá trung bình của mọi người về độ cao là thấp hơn mặc cho thực tế họ có thể nghe thấy độ cao đang đi lên.

Thực nghiệm 4: Ca sĩ chủ yếu là hát những quãng nhạc nghe 'hạnh phúc' và những quãng thứ nghe 'buồn'. Trong một số điều kiện, người tham gia được nghe một loạt những nốt nhạc 'hạnh phúc' nhưng nhìn thấy nét mặt ca sĩ có vẻ bất hạnh. Trong những điều kiện khác, những quãng nhạc là phù hợp với những biểu hiện của khuôn mặt. Những người tham gia đánh giá yếu tố cảm xúc của những quãng nhạc cao hơn nếu audio và video là phù hợp.

Thực nghiệm 5: Lần này những người tham gia được nghe những buổi biểu diễn âm nhạc thực tế, một số người đang xem video kèm theo, một số người không. Người ta phát hiện thấy, đôi lúc kênh thị giác bổ sung thêm cho buổi biểu diễn, và đôi lúc nó làm giảm.

Những thực nghiệm trên đã cho thấy những cách thức cơ bản mà ở đó biểu hiện khuôn mặt của người biểu diễn có thể có 1 ảnh hưởng to lớn đến sự lĩnh hội âm nhạc của chúng ta. Những biểu hiện khuôn mặt và những động tác cơ thể có thể thay đổi độ cao âm thanh chúng ta nghe, trải nghiệm cảm xúc nhiều như thế nào và có thể tương tác với âm nhạc theo những cách đáng kinh ngạc.

Nhưng rõ ràng là không phải tất cả những khía cạnh thị giác của biểu diễn âm nhạc đều tốt. Một số động tác cơ thể của người biểu diễn có thể làm giảm sự thưởng thức âm nhạc của chúng ta.

Văn hoá và âm nhạc

Thompson, Graham and Russo (2005) chỉ ra rằng không phải đến khi phát minh ra máy quay đĩa thì các yếu tố âm thanh của âm nhạc mới được tách rời khỏi những yếu tố hình ảnh.

Những phát minh công nghệ hiện đại như iPod đã củng cố thêm cho sự tách rời này. Sự xuất hiện của video nhạc pop đã tạo thêm một tầng khác của ý nghĩa hình ảnh đối với âm nhạc. Tuy nhiên, tầng này thường ít liên quan đến những biểu hiện khuôn mặt và động tác tay của nghệ sĩ mà liên quan nhiều đến tầm nhìn của những nhà sản xuất và đạo diễn video.

Không chỉ nghe mà còn xem nhạc

Chắc chắn là hiện nay, nhiều nhạc sĩ kiếm tiền chủ yếu từ những buổi biểu diễn nhạc sống hơn là từ việc bán album. Thậm chí nhiều người còn tặng miễn phí album của họ.

Điều này có thể là một phần của sự công nhận văn hoá rằng âm nhạc còn nhiều thứ hơn chỉ là âm thanh, nó là một sự tương tác giữa ca sĩ và khán giả, một phần lớn trong đó là những biểu hiện khuôn mặt và động tác. Đó là sự tương tác mà chúng ta đang bắt đầu đặt cho nó 1 giá trị cao hơn.


Tham khảo

Thompson, W.F., Graham, P., & Russo, F.A. (2005). Seeing music performance: Visual influences on perception and experience. Semiotica, 156, 203-227.

Nguồn: Spring.org.uk